Diễn đàn cây thuốc nam

Nơi trao đổi thông tin và liên kết thị trường về cây thuốc, bài thuốc đông y

Digital platform on herbal plants and recipies

Chủ đề này bao gồm 0 phản hồi, có 1 voice, và đã được cập nhật lần cuối cùng cách đây khoảng Avatar Phan Huy Cuong 10 tháng, 2 tuần trước.

Đang xem bài viết thứ 1 (trong tổng số 1 bài viết)
  • Người viết
    Bài viết
  • #2314
    Avatar
    Phan Huy Cuong
    Thành viên

    CÔNG DỤNG CỦA CÂY ĐƯƠNG QUY
    Cây đương quy có tên khoa học là Angelica sinensis, thuộc họ Hoa tán. Tác dụng của Đương Quy rất tốt, là thuốc đầu vị trong các chữa bệnh của phụ nữ, đồng thời dùng nhiều trong các đơn thuốc bổ và thuốc chữa các bệnh khác.

    Cây Đương Quy có tên khoa học là Angelica sinensis, thuộc họ Hoa tán. Tác dụng của Đương Quy rất tốt, là thuốc đầu vị trong các chữa bệnh của phụ nữ, đồng thời dùng nhiều trong các đơn thuốc bổ và thuốc chữa các bệnh khác.
    Chủ yếu dùng chữa bệnh kinh nguyệt không điều, đau bụng khi thấy kinh, người thiếu máu, tay chân đau nhức và lạnh. Đương quy cũng là một thành phần quan trọng trong ” Khang Nữ Đan”. Bài viết sau sẽ giúp tìm hiểu rõ về tác dụng của Đương Quy trong việc chữa bệnh.

    Tac-dung-cua-duong-quy-trong-viec-chua-benh

    Đương quy tốt cho các bệnh về huyết

    Bộ phận dùng: Rễ đã phơi hay sấy khô .
    Nguồn gốc: Năm 1960, ta nhập từ Trung Quốc, giống cây Đương Quy có tên khoa học là Angelica sinensi Diels, thuộc họ Hoa tán
    Phân bố: Loài cây của Trung Quốc phát triển ở vùng cao 2000-3000m, nơi khí hậu ẩm mát. Việt Nam nhập trồng vào đầu những năm 60 hiện nay phát triển trồng ở Sapa (Lào Cai). Ngọc Lĩnh (Kontum), Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) và Đà Lạt (Lâm Đồng).
    Công năng: Bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, giảm đau, nhuận tràng, thông đại tiện.
    Tác dụng của đương quy:
    Tac-dung-cua-duong-quy-trong-viec-chua-benh2

    Rễ cây đương quy

    Y học cổ truyền (YHCT) chia bệnh về huyết thành một số thể như huyết hư, huyết trệ, xuất huyết.

    Huyết hư: biểu hiện da xanh xao, mắt thâm quầng, nhiều lòng trắng, môi thâm, lưỡi nhợt nhạt, người gầy yếu, kém ăn, mất ngủ, thường xuyên choáng váng, đau đầu, hoa mắt…, thường gặp ở những người mới ốm dậy, người già, phụ nữ sau khi sinh hoặc sau mắc sốt rét, sốt xuất huyết, viêm gan, nhiễm ký sinh trùng (giun móc, giun tóc)… Để điều trị, YHCT thường sử dụng các thuốc bổ huyết như: đương quy, thục địa, bạch thược, long nhãn…

    Huyết trệ (hay huyết ứ): cơ thể bị chấn thương tụ máu gây bầm tím, cơ nhục đau đớn, đau dây thần kinh, đau xương, khớp…; hoặc bế kinh, đau bụng kinh; hoặc ứ huyết sau sinh gây đau bụng, hoặc huyết lưu thông kém gây tức ngực, đau sườn, đau đầu, choáng váng… Trường hợp này thường sử dụng các thuốc hoạt huyết, như đan sâm, ích mẫu, kê huyết đằng, tô mộc, nga truật…

    Xuất huyết: biểu hiện như xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu đường tiêu hóa (dạ dày, ruột…), trĩ xuất huyết, băng kinh… Thường dùng các thuốc mang tính chỉ huyết như địa du, trắc bách diệp, hà diệp, cỏ nhọ nồi, đại kế, tiểu kế… (sao đen hoặc sao cháy). Trên thực tế lâm sàng, các chứng bệnh thường xuất hiện đan xen các triệu chứng, như vừa bị chứng huyết hư lại kèm chứng ứ huyết, vừa bị thiếu máu lại bị bế kinh, đau bụng… hoặc vừa bị thiếu máu song vẫn bị chảy máu cam, xuất huyết dưới da… Để điều trị các triệu chứng trên, đương quy là vị thuốc phù hợp nhất.

    Tải lên hình ảnh đính kèm:
    You must be logged in to view attached files.
Đang xem bài viết thứ 1 (trong tổng số 1 bài viết)

Bạn cần đăng nhập để phản hồi chủ đề này.