Diễn đàn cây thuốc nam

Nơi trao đổi thông tin và liên kết thị trường về cây thuốc, bài thuốc đông y

Digital platform on herbal plants and recipies

Chủ đề này bao gồm 0 phản hồi, có 1 voice, và đã được cập nhật lần cuối cùng cách đây khoảng Phạm Hải Bình Phạm Hải Bình 4 tháng, 2 tuần trước.

Đang xem bài viết thứ 1 (trong tổng số 1 bài viết)
  • Người viết
    Bài viết
  • #2868
    Phạm Hải Bình
    Phạm Hải Bình
    Quản lý

    THIÊN MÔN CHÙM (SHATAVARI = Người có 100 người chồng)
    Tên khoa học – Asparagus racemosus Willd. (thuộc họ Măng tây – Asparagaceae)
    —————— Đỉnh cao cho PHỤ NỮ——————
    Thiên môn chùm là một cây thuốc nổi tiếng ở Ấn Độ, được gọi tên là SHATAVARI, có nghĩa là “người có một trăm người chồng hoặc được nhiều người chấp nhận”. Nó vừa được coi là một loại thuốc bổ nói chung vừa là một loại thuốc bổ sinh sản nữ. Shatavari có thể được dịch là “100 người phối ngẫu”, ngụ ý rằng nó có khả năng tăng khả năng sinh sản và sức sống.
    Trong nền y học cổ truyền Ấn Độ (AyurVeda), Thiên môn chùm là được coi là “Nữ hoàng của các loài thảo mộc”, bởi nó làm tăng khả năng sinh sản và sức sống. Trong y học AyurVeda, Shatavari là vị chính trong thuốc bổ, giúp trẻ hóa cho nữ, tương tự như cây Cà Withania cho nam giới. Shatavari là một trong những vị thuốc nổi tiếng, có tác dụng điều trị bệnh điên cuồng, madhur vipakam, seet-veeryam, som rogam, sốt mãn tính và nội nhiệt. Loại thảo mộc này có hiệu quả cao trong các vấn đề liên quan đến hệ sinh dục nữ. Charak Samhita và Ashtang Hridyam là hai văn bản chính về các loại thuốc Ayurvedic, liệt kê Thiên môn chùm (TMC) như một phần của công thức điều trị rối loạn sức khỏe phụ nữ. TMC là một rasayana Ayurvedic nổi tiếng có tác dụng ngăn ngừa lão hóa, tăng tuổi thọ, truyền khả năng miễn dịch, cải thiện chức năng tâm thần, sức sống và sức sống cho cơ thể và nó cũng được sử dụng trong các bệnh rối loạn thần kinh, khó tiêu, khối u, viêm nhiễm, bệnh thần kinh, bệnh gan. Các báo cáo chỉ ra rằng các hoạt động dược lý của chiết xuất từ rễ TMC bao gồm các chất chống đông máu, chống oxy hóa, và các hoạt động chống tiêu chảy, chống đái tháo đường và điều hòa miễn dịch. Một nghiên cứu về tài liệu Ayurvedic cổ điển đã khẳng định một số đặc tính trị liệu đối với rễ của TMC và đã được khuyến cáo đặc biệt trong các trường hợp dọa sẩy thai và như một buổi dạ hội.
    Rễ của TMC được gọi là có vị ngọt đắng, chất làm mềm, làm mát, bổ thần kinh, táo bón, galactogogue, và kích thích tình dục, lợi tiểu, trẻ hóa, tiêu diệt, tiêu chảy, sát trùng và như thuốc bổ. Tác dụng có lợi của rễ cây TMC được đề xuất trong các chứng rối loạn thần kinh, khó tiêu, tiêu chảy, khó tiêu, khối u, viêm, tăng tiêu huyết, bệnh thần kinh, bệnh gan, ho, viêm phế quản, tăng tiết và một số bệnh truyền nhiễm. Các thành phần hoạt động chính của TMC là saponin steroid (Shatavarin I-IV) có trong rễ. Shatavarin IV đã được báo cáo là thể hiện hoạt tính đáng kể như một chất ức chế enzym Golgi cốt lõi transferase trong các xét nghiệm tự do tế bào và gần đây cho thấy hoạt động điều biến miễn dịch chống lại các kháng nguyên phụ thuộc T cụ thể ở động vật bị tổn thương miễn dịch
    THÀNH PHẦN HÓA HỌC
    Trong rễ TMC có các thành phần quang hóa như sau:
    – Các saponin steroid, được biết đến là các shatvarin. Shatvarin I đến VI đều có mặt. Shatvarin I là glycosid chính có gốc 3-glucose và rhamnose gắn với sarsapogenin.
    – Oligospirostanosid được gọi là Immunosid.
    – Polycyclic alkaloid-Aspargamin A, một pyrrolizidin alkaloid dạng lồng.
    – Isoflavone-8-methoxy-5, 6, 4-trihydroxy isoflavon-7-0-beta-D-glucopyranosid.
    – Hydrocacbon mạch vòng-racemosol, dihydrophenantheren.
    – Hợp chất Furan-Racemofuran.
    – Carbohydrat-Polysacharid, chất nhầy.
    – Flavanoid-Glycosid quercitin, rutin và hyperosid có trong hoa và quả.
    – Rễ cũng chứa sitosterol, 4, 6-dihydryxy-2-O (-2-hydroxy isobutyl) benzaldehyd và undecanyl cetanoat.
    – Các khoáng chất dạng vết được tìm thấy trong roots-zinc, mangan (19,98 mg / g), đồng (5,29 mg / g), coban (22,00 mg / g) cùng với canxi, magiê, kali kẽm và selen.
    – Đã phân lập được Kaepfrol cùng với Sarsapogenin từ các phần thân gỗ của rễ củ.
    – Các axit béo thiết yếu khác – Axit gamma linoleinic, vitamin A, diosgenin, quercetin 3-glucourbnid.
    TÁC DỤNG DƯỢC LÝ
    – Kích thích tình dục: dịch chiết nước từ TMC, Chlorophytum borivilianum và thân rễ Sâm cau làm tăng tuần suất quan hệ, giảm thời gian chờ đợi và kéo dài thời gian xuất tinh; tăng khả năng cương cứng của dương vật ở chuột đực. Tăng ham muốn tình dục ở chuột cái.
    – Thuốc bổ đa năng cho nữ: trong YHCT Ấn Độ, TMC được coi là một loại thuốc bổ cho phụ nữ. Mặc dù là một loại thảo mộc có tác dụng làm trẻ hóa, nhưng nó có lợi trong việc chữa vô sinh ở nữ giới, vì nó làm tăng ham muốn tình dục, chữa viêm cơ quan sinh dục và thậm chí làm ẩm các mô khô của cơ quan sinh dục, tăng cường tạo nang trứng và rụng trứng, chuẩn bị tử cung để thụ thai, ngăn ngừa sẩy thai, hoạt động như hậu bổ sung bằng cách tăng tiết sữa, bình thường hóa tử cung và thay đổi nội tiết tố. Việc sử dụng nó cũng có tác dụng trong bệnh bạch huyết và rong kinh.
    – Giảm các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.
    – Chống ung thư: dịch chiết chloroform / methanol (1:1) rễ tươi TMC làm giảm tỷ lệ khối u ở chuột cái, ảnh hưởng đối với động vật bình thường cũng như động vật có mồi estrogen, làm cho biểu mô tuyến vú chịu tac dụng của chất gây ung thư.
    – Điều hòa miễn dịch: Nhiễm trùng huyết trong ổ bụng là nguyên nhân chính gây tử vong sau chấn thương và phẫu thuật ruột.
    – Tăng cường trí nhớ và chống lại chứng hay quên.
    – Tác dụng tăng tiết sữa
    – Kháng tiết và chống đông máu: đặc biệt tốt trong trường hợp chữa viêm loét dạ dày, tá tràng.
    – Chống ho.
    – Tăng khả năng thích nghi
    – Kháng khuẩn
    – Ức chế sự phát triển của bệnh Giun chỉ do KST Eintamoeba histolytica gây ra
    – Chứng khó tiêu
    – Ức chế sự co thắt tử cung
    – Diệt khuẩn nhờ có terpenoit, steroid và saponin
    – Chống độc tố nhờ tăng cường của alanin transakinase, aspartate transaminase và alkaline phosphat ở chuột cống trắng bị tổn thương gan gây bởi CCL4
    – Tim mạch: dịch chiết cồn của TMC có tác dụng co bóp và chronotropic tích cực trên tim ếch với liều thấp hơn và ngừng tim với liều cao hơn. Dịch chiết cũng có thể gây hạ huyết áp ở mèo, do atropin bị chặn lại, cho thấy cơ chế hoạt động của hệ cholinergic…
    – Bổ trợ miễn dịch của dịch chiết nước TMC đã được đánh giá trên động vật thí nghiệm được chủng ngừa bằng vắc-xin bạch hầu, uốn ván, ho gà.
    – Các hiệu ứng khác: dịch chiết cồn của TMC được phát hiện có tác dụng lợi tiểu nhẹ ở chuột và tác dụng hạ đường huyết ở thỏ, nhưng không có tác dụng chống co giật và chống vô sinh ở chuột và thỏ.
    – Hiệu ứng độc hại: trong YHCT Ấn Độ coi TMC là tuyệt đối an toàn để sử dụng lâu dài, ngay cả trong thời kỳ mang thai và cho con bú ở chuột.
    – Chống oxy hóa.
    – Ức chế sự tạo sỏi ở thận.
    – Chống trầm cảm
    – Chống viêm
    – Lợi tiểu.
    – Ngăn ngừa sự hình thành ung thư gan
    – Chống stess
    – Hạ đường huyết
    – Cai rượu
    Nguồn: FB Phương dược liệu

Đang xem bài viết thứ 1 (trong tổng số 1 bài viết)

Bạn cần đăng nhập để phản hồi chủ đề này.